MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CẦN BIẾT VỀ HỢP PHÁP HÓA LÃNH SỰ TÀI LIỆU NƯỚC NGOÀI SỬ DỤNG TẠI VIỆT NAM

 MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CẦN BIẾT VỀ HỢP PHÁP HÓA LÃNH SỰ TÀI LIỆU NƯỚC NGOÀI SỬ DỤNG TẠI VIỆT NAM

 MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CẦN BIẾT VỀ

HỢP PHÁP HÓA LÃNH SỰ TÀI LIỆU NƯỚC NGOÀI SỬ DỤNG TẠI VIỆT NAM

A. TỔNG QUAN

  • Ban hành và Hiệu lực: Khung pháp lý nền tảng về hợp pháp hóa lãnh sự được quy định tại Nghị định số 111/2011/NĐ-CP ngày 05/12/2011, Nghị định số 196/2025/NĐ-CP ngày 04/07/2025 sửa đổi, bổ sung Nghị định 111/2011/NĐ-CP, có hiệu lực thi hành từ ngày 03/08/2025.
  • Phạm vi điều chỉnh: Quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục hợp pháp hóa lãnh sự giấy tờ, tài liệu của nước ngoài để được công nhận và sử dụng tại Việt Nam.
  • Điều khoản chuyển tiếp: Đối với các hồ sơ nộp trước ngày 03/08/2025, tiếp tục áp dụng quy định của Nghị định 111/2011/NĐ-CP. Đặc biệt, quy định về chứng nhận, hợp pháp hóa lãnh sự điện tử sẽ chính thức được áp dụng từ ngày 01/01/2026.

B. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN BIẾT

1. Bản chất và yêu cầu bắt buộc của hợp pháp hóa lãnh sự

  • Nội dung chính: Hợp pháp hóa lãnh sự là việc cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam chứng nhận con dấu, chữ ký và chức danh trên giấy tờ, tài liệu của nước ngoài để tài liệu đó được công nhận và có giá trị sử dụng tại Việt Nam. Cần lưu ý, việc này chỉ chứng nhận về mặt hình thức (dấu, chữ ký, chức danh), không bao hàm chứng nhận về nội dung của tài liệu.
  • Căn cứ pháp lý: Điều 2, Điều 3 và Điều 4 Nghị định 111/2011/NĐ-CP.
  • Điều kiện, thủ tục, nghĩa vụ: Trừ các trường hợp được miễn, mọi giấy tờ, tài liệu của nước ngoài muốn được công nhận và sử dụng hợp pháp tại Việt Nam đều bắt buộc phải trải qua thủ tục hợp pháp hóa lãnh sự.

2. Các trường hợp tài liệu nước ngoài được miễn hợp pháp hóa lãnh sự

  • Nội dung chính: Theo quy định mới nhất, giấy tờ nước ngoài được miễn hợp pháp hóa lãnh sự nếu thuộc một trong các trường hợp: (i) Theo điều ước quốc tế mà Việt Nam và nước ngoài đều là thành viên hoặc theo nguyên tắc có đi có lại; (ii) Chuyển giao trực tiếp hoặc qua đường ngoại giao giữa các cơ quan có thẩm quyền; (iii) Theo quy định pháp luật Việt Nam; (iv) Cơ quan tiếp nhận của Việt Nam không yêu cầu dựa trên cơ sở tự xác định được tính xác thực của tài liệu. Đáng chú ý, Việt Nam đã chính thức gia nhập Công ước La Hay 1961 (Công ước Apostille) về miễn hợp pháp hóa giấy tờ công nước ngoài, có hiệu lực từ ngày 11/09/2026. Từ thời điểm này, giấy tờ chỉ cần được cấp một chứng nhận duy nhất (tem Apostille) bởi nước ban hành là có giá trị sử dụng tại các nước thành viên.
  • Căn cứ pháp lý: Điều 9 Nghị định 111/2011/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 196/2025/NĐ-CP).

3. Các trường hợp bị từ chối hợp pháp hóa lãnh sự

  • Nội dung chính: Cơ quan thẩm quyền sẽ từ chối hợp pháp hóa nếu giấy tờ thuộc các trường hợp: bị tẩy xóa, sửa chữa nhưng không đính chính đúng luật; là tài liệu giả mạo hoặc cấp sai thẩm quyền; có nội dung xâm phạm lợi ích của Nhà nước Việt Nam. Đối với bản giấy, chữ ký và con dấu phải là bản gốc. Đối với bản điện tử (áp dụng từ 2026), tài liệu sẽ bị từ chối nếu không có chữ ký số của người/cơ quan có thẩm quyền, không bảo đảm tính toàn vẹn, xác thực theo quy định về giao dịch điện tử.
  • Căn cứ pháp lý: Điều 10 Nghị định 111/2011/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 196/2025/NĐ-CP).

4. Thủ tục và phương thức nộp hồ sơ hợp pháp hóa lãnh sự

  • Nội dung chính: Nhà đầu tư có thể nộp hồ sơ trực tiếp, qua dịch vụ bưu chính hoặc nộp trực tuyến qua Cổng dịch vụ công quốc gia bằng tài khoản định danh điện tử. Hồ sơ cơ bản bao gồm: Tờ khai, giấy tờ tùy thân, tài liệu đề nghị hợp pháp hóa (đã được cơ quan ngoại giao nước ngoài chứng nhận) và bản dịch tiếng Việt hoặc tiếng Anh.Thời hạn giải quyết được rút ngắn: 01 ngày làm việc (cho 1-4 tài liệu), không quá 02 ngày làm việc (cho 5-9 tài liệu), và tối đa 04 ngày làm việc nếu có từ 10 tài liệu trở lên .
  • Căn cứ pháp lý: Điều 14, 15 và 15a Nghị định 111/2011/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 196/2025/NĐ-CP).

TÓM LẠI: Hợp pháp hóa lãnh sự là bước đi pháp lý thiết yếu để tài liệu nước ngoài phát sinh hiệu lực tại Việt Nam. Sự ra đời của Nghị định 196/2025/NĐ-CP cùng việc Việt Nam gia nhập Công ước Apostille (hiệu lực 2026) đánh dấu bước ngoặt lớn trong cải cách thủ tục hành chính, số hóa quy trình và tiết giảm chi phí. Các nhà đầu tư cần nắm vững danh mục tài liệu được miễn trừ, đảm bảo tính hợp pháp của tài liệu gốc và tận dụng phương thức nộp hồ sơ trực tuyến để tối ưu hóa thời gian thực hiện các thủ tục đầu tư.

 

 

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CẦN BIẾT VỀ DỮ LIỆU CÁ NHÂN

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CẦN BIẾT VỀ DỮ LIỆU CÁ NHÂN

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CẦN BIẾT
VỀ DỮ LIỆU CÁ NHÂN

1. TỔNG QUAN

  • Thời điểm ban hành và hiệu lực: Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15 được Quốc hội ban hành ngày 26/06/2025, Nghị định 356/2025/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 31/12/2025 quy định chi tiết Luật này. Cả hai văn bản chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2026. Nghị định 13/2023/NĐ-CP hết hiệu lực từ ngày này.
  • Phạm vi điều chỉnh: Áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam; và tổ chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp tham gia hoặc có liên quan đến xử lý DLCN của công dân Việt Nam, người gốc Việt Nam chưa xác định quốc tịch đang sinh sống tại Việt Nam đã có giấy chứng nhận căn cước.
  • Điều khoản chuyển tiếp: Các hoạt động xử lý DLCN đã được chủ thể đồng ý theo Nghị định 13/2023/NĐ-CP trước ngày 01/01/2026 thì được tiếp tục thực hiện mà không phải xin đồng ý lại. Các hồ sơ đánh giá tác động đã nộp trước đây tiếp tục được sử dụng và việc cập nhật sẽ thực hiện theo Luật mới. Đặc biệt, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp khởi nghiệp được miễn thực hiện quy định lập hồ sơ đánh giá tác động và chỉ định nhân sự bảo vệ DLCN trong 5 năm (trừ khi kinh doanh dịch vụ xử lý DLCN, xử lý DLCN nhạy cảm hoặc đạt quy mô từ 100.000 chủ thể dữ liệu); hộ kinh doanh, doanh nghiệp siêu nhỏ cũng được áp dụng ngoại lệ này.

2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN BIẾT

Một là, Phân loại và nguyên tắc xử lý dữ liệu cá nhân:

  • Nội dung chính: DLCN được chia thành hai nhóm là DLCN cơ bản (họ tên, ngày sinh, nơi ở, SĐT, hình ảnh…) và DLCN nhạy cảm (quan điểm tôn giáo, tình trạng sức khỏe, dữ liệu sinh trắc học, thông tin tài chính/ngân hàng, vị trí định vị…). Việc thu thập, xử lý DLCN bắt buộc phải có sự đồng ý của chủ thể dữ liệu, trừ các trường hợp ngoại lệ để bảo vệ tính mạng, sức khỏe hoặc giải quyết tình trạng khẩn cấp.
  • Căn cứ pháp lý: Điều 2, Điều 9, Điều 19 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025; Điều 3, Điều 4, Điều 5 Nghị định 356/2025/NĐ-CP.
  • Điều kiện, thủ tục, nghĩa vụ: Trong quá trình xử lý DLCN nhạy cảm, cơ quan/tổ chức phải thiết lập quy định phân quyền giới hạn truy cập, quy trình xử lý và các biện pháp bảo mật. Doanh nghiệp phải xây dựng quy trình, biểu mẫu rõ ràng để thực hiện các quyền của chủ thể dữ liệu (như quyền rút lại sự đồng ý, quyền xóa dữ liệu), với thời hạn phản hồi quy định nghiêm ngặt từ 02 ngày làm việc và thực hiện từ 10 – 30 ngày tùy yêu cầu.
  • Đối tượng liên quan: Tất cả các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức có hoạt động thu thập, lưu trữ thông tin khách hàng, người lao động.

Hai là, Lập hồ sơ đánh giá tác động xử lý và chuyển dữ liệu cá nhân xuyên biên giới:

    • Nội dung chính: Bên kiểm soát, bên xử lý DLCN bắt buộc phải lập hồ sơ đánh giá tác động khi xử lý DLCN hoặc chuyển DLCN ra nước ngoài (chẳng hạn như lưu trữ trên máy chủ hoặc dịch vụ điện toán đám mây đặt ngoài lãnh thổ Việt Nam).
    • Căn cứ pháp lý: Điều 20, Điều 21, Điều 22 Luật Bảo vệ DLCN 2025; Điều 17 đến Điều 20 Nghị định 356/2025/NĐ-CP.
    • Điều kiện, thủ tục, nghĩa vụ: Doanh nghiệp phải lập và gửi 01 bản chính hồ sơ cho cơ quan chuyên trách (Bộ Công an) trong thời gian 60 ngày kể từ ngày đầu tiên xử lý hoặc chuyển DLCN. Hồ sơ phải được cập nhật định kỳ 06 tháng/lần, hoặc cập nhật ngay trong vòng 10 ngày nếu có thay đổi về tổ chức, dịch vụ kinh doanh.
    • Đối tượng liên quan: Các bên kiểm soát và xử lý DLCN, đặc biệt là các doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài, các tổ chức sử dụng giải pháp phần mềm/đám mây quốc tế.

Ba là, Bố trí Lực lượng, bộ phận, nhân sự bảo vệ dữ liệu cá nhân:

  • Nội dung chính: Các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm chỉ định bộ phận, nhân sự chuyên trách đủ điều kiện năng lực, hoặc tiến hành thuê tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ bảo vệ DLCN độc lập.
  • Căn cứ pháp lý: Điều 33 Luật Bảo vệ DLCN 2025; Điều 13 đến Điều 16 Nghị định 356/2025/NĐ-CP.
  • Điều kiện, thủ tục, nghĩa vụ: Nhân sự được chỉ định phải có trình độ từ cao đẳng trở lên, có ít nhất 02 năm kinh nghiệm (hoặc 03 năm đối với dịch vụ thuê ngoài) liên quan đến pháp chế, CNTT, quản trị rủi ro hoặc kiểm soát tuân thủ, và đã được đào tạo kiến thức pháp luật chuyên môn. Việc phân công, chỉ định nhân sự/bộ phận này phải được thực hiện bằng văn bản chính thức.
  • Đối tượng liên quan: Mọi cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp (trừ một số doanh nghiệp nhỏ/khởi nghiệp, hộ kinh doanh được miễn trừ trong 5 năm đầu theo quy định tại Điều 41 Nghị định 356/2025/NĐ-CP).

Bốn là, Thông báo sự cố và vi phạm bảo vệ dữ liệu cá nhân:

  • Nội dung chính: Bất cứ khi nào phát hiện vi phạm quy định về bảo vệ DLCN có nguy cơ gây tổn hại đến an ninh, trật tự xã hội hoặc quyền, lợi ích, tài sản của cá nhân, doanh nghiệp phải lập tức báo cáo cơ quan chuyên trách.
  • Căn cứ pháp lý: Điều 23 Luật Bảo vệ DLCN 2025; Điều 8, Điều 28, Điều 29 Nghị định 356/2025/NĐ-CP.
  • Điều kiện, thủ tục, nghĩa vụ: Việc thông báo cho Bộ Công an phải thực hiện chậm nhất là 72 giờ kể từ khi phát hiện hành vi vi phạm, đồng thời phải lập biên bản xác nhận vi phạm và khắc phục hậu quả. Đặc biệt lưu ý, đối với lĩnh vực tài chính, ngân hàng, hoặc khi xảy ra sự cố liên quan đến dữ liệu vị trí, sinh trắc học, tổ chức bắt buộc phải thông báo cho cả chủ thể dữ liệu bị ảnh hưởng trong thời hạn tối đa 72 giờ.
  • Đối tượng liên quan: Các công ty thu thập DLCN lớn, ứng dụng định vị, các ngân hàng, tổ chức tín dụng, công ty chứng khoán, bảo hiểm.

Năm là, Kinh doanh dịch vụ xử lý dữ liệu cá nhân:

  • Nội dung chính: Các hoạt động như phân tích, khai thác dữ liệu; chấm điểm, xếp hạng tín nhiệm; cung cấp hệ thống lưu trữ/xử lý tự động thay mặt bên kiểm soát (SaaS, cloud) chính thức trở thành ngành, nghề kinh doanh dịch vụ xử lý DLCN.
  • Căn cứ pháp lý: Điều 21 đến Điều 27 Nghị định 356/2025/NĐ-CP.
  • Điều kiện, thủ tục, nghĩa vụ: Tổ chức muốn kinh doanh mảng này bắt buộc phải xin “Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ xử lý DLCN” do Bộ Công an cấp. Điều kiện kinh doanh bao gồm: Người đứng đầu phụ trách chuyên môn phải là công dân Việt Nam, thường trú tại Việt Nam; có tối thiểu 03 nhân sự chuyên trách về DLCN; đáp ứng tiêu chuẩn hạ tầng, cơ sở vật chất,. Hồ sơ đề nghị cấp phép bao gồm Đơn đề nghị, Đề án kinh doanh và hồ sơ nhân sự liên quan.
  • Đối tượng liên quan: Doanh nghiệp IT, công ty công nghệ (AI, Big Data, Blockchain, Cloud), các trung tâm phân tích dữ liệu và các tổ chức cung cấp dịch vụ phần mềm doanh nghiệp, marketing hành vi.

Tóm lại, để đảm bảo tuân thủ, các cá nhân tổ chức liên quan có thể cần thực hiện:

  • Rà soát, phân loại DLCN: Phân tách rõ DLCN cơ bản và nhạy cảm trong hệ thống lưu trữ hiện tại.
  • Chuẩn hóa quy trình, biểu mẫu: Cập nhật quy chế nội bộ, hợp đồng, thiết lập phương thức hợp pháp để xin ý kiến “đồng ý” từ chủ thể và xây dựng cơ chế đáp ứng các quyền của họ.
  • Ra quyết định bổ nhiệm nhân sự chuyên trách/bộ phận bảo vệ DLCN đủ tiêu chuẩn theo luật định, hoặc tiến hành ký hợp đồng thuê dịch vụ ngoài.
  • Hoàn thiện Hồ sơ Đánh giá tác động (DPIA/TIA): Lập và gửi các hồ sơ đánh giá tác động xử lý/chuyển dữ liệu xuyên biên giới lên cơ quan chuyên trách bảo vệ dữ liệu cá nhân chậm nhất là 60 ngày kể từ ngày bắt đầu xử lý.
  • Thiết lập quy trình phản ứng sự cố, đảm bảo khả năng báo cáo cơ quan chức năng trong vòng 72 giờ khi xảy ra lộ lọt dữ liệu.
  • Xin cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện: Nếu hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ xử lý DLCN, cần chuẩn bị nhân lực, hạ tầng và xây dựng Đề án để xin cấp Giấy chứng nhận tại Bộ Công an.

 

 

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CẦN BIẾT VỀ TRÍ TUỆ NHÂN TẠO

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CẦN BIẾT VỀ TRÍ TUỆ NHÂN TẠO

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CẦN BIẾT 
VỀ TRÍ TUỆ NHÂN TẠO

1. TỔNG QUAN

  • Thời điểm ban hành và hiệu lực: Luật Trí tuệ nhân tạo (Luật số: 134/2025/QH15) được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025 và chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/2026.
  • Phạm vi điều chỉnh: Luật quy định về nghiên cứu, phát triển, cung cấp, triển khai và sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo (TTNT); quyền, nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân có liên quan và công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động TTNT tại Việt Nam. Luật áp dụng cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài tham gia hoạt động TTNT tại Việt Nam, không áp dụng cho hoạt động TTNT phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh, cơ yếu.
  • Điều khoản chuyển tiếp: Đối với các hệ thống TTNT đã được đưa vào hoạt động trước ngày 01/3/2026, nhà cung cấp và bên triển khai có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tuân thủ trong thời hạn 18 tháng (đối với lĩnh vực y tế, giáo dục, tài chính) hoặc 12 tháng (đối với các hệ thống khác) kể từ ngày Luật có hiệu lực. Trong thời hạn này, hệ thống tiếp tục được hoạt động trừ khi cơ quan quản lý xác định có nguy cơ gây thiệt hại nghiêm trọng và yêu cầu tạm dừng hoặc chấm dứt hoạt động.

 2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN BIẾT

Một là, Phân loại và quản lý rủi ro:

  • Nội dung chính và căn cứ pháp lý: Theo Điều 9, hệ thống TTNT được phân loại thành 3 mức độ rủi ro: cao, trung bình và thấp,. Hệ thống rủi ro cao là hệ thống có thể gây thiệt hại đáng kể đến tính mạng, sức khỏe, quyền và lợi ích hợp pháp, an ninh quốc gia.
  • Điều kiện, thủ tục, nghĩa vụ: Căn cứ Điều 10 và Điều 14, nhà cung cấp phải tự phân loại hệ thống trước khi đưa vào sử dụng. Đối với hệ thống rủi ro trung bình và cao, nhà cung cấp phải có hồ sơ phân loại và thông báo kết quả cho Bộ Khoa học và Công nghệ qua Cổng thông tin điện tử một cửa trước khi sử dụng. Riêng hệ thống rủi ro cao phải được đánh giá sự phù hợp trước khi sử dụng; thiết lập biện pháp quản lý rủi ro; lưu giữ hồ sơ kỹ thuật, nhật ký hoạt động; bảo đảm khả năng can thiệp của con người. Đối với nhà cung cấp nước ngoài có hệ thống rủi ro cao bắt buộc phải có đầu mối liên hệ hợp pháp, hiện diện thương mại hoặc đại diện được ủy quyền tại Việt Nam.
  • Đối tượng liên quan: Doanh nghiệp, tổ chức là nhà cung cấp (đưa hệ thống ra thị trường) và bên triển khai (sử dụng hệ thống để cung cấp dịch vụ) cần lưu tâm để thực hiện phân loại và duy trì sự phù hợp hệ thống.

Hai là, Nghĩa vụ minh bạch và hành vi bị cấm:

  • Nội dung chính và căn cứ pháp lý: Quy định chi tiết tại Điều 11 về trách nhiệm minh bạch và Điều 7 về các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động TTNT.
  • Điều kiện, thủ tục, nghĩa vụ: Nhà cung cấp phải bảo đảm hệ thống được thiết kế để người sử dụng nhận biết họ đang tương tác với TTNT. Các nội dung âm thanh, hình ảnh, video do TTNT tạo ra hoặc chỉnh sửa nhằm mô phỏng, giả lập người thật hoặc sự kiện thật (như deepfake) phải được đánh dấu ở định dạng máy đọc và gắn nhãn dễ nhận biết để tránh gây nhầm lẫn,. Đồng thời, pháp luật nghiêm cấm việc lợi dụng TTNT để lừa dối, thao túng hành vi; lợi dụng nhóm người dễ bị tổn thương (trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật,…); thu thập dữ liệu huấn luyện trái phép; hoặc che giấu thông tin bắt buộc phải minh bạch.
  • Đối tượng liên quan: Các nhà phát triển, nhà cung cấp giải pháp nội dung số và các nền tảng ứng dụng trực tiếp tương tác với người dùng cần thiết lập tính năng dán nhãn thông báo và kiểm duyệt nội dung tự động.

Ba là, Cơ chế thử nghiệm (sandbox):

  • Nội dung chính và căn cứ pháp lý: Điều 21 quy định về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đối với TTNT để khuyến khích đổi mới sáng tạo.
  • Điều kiện, thủ tục, nghĩa vụ: Việc thử nghiệm được đặt dưới sự giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; cơ quan này có quyền thẩm định hồ sơ, quy trình phản hồi nhanh và quyết định tạm dừng nếu có rủi ro. Kết quả thử nghiệm là căn cứ quan trọng để nhà nước xem xét công nhận kết quả đánh giá sự phù hợp, hoặc miễn, giảm, điều chỉnh các nghĩa vụ tuân thủ tương ứng của Luật này.
  • Đối tượng liên quan: Các doanh nghiệp công nghệ, doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo đang phát triển các sản phẩm TTNT mới, cần môi trường thực tế để đánh giá rủi ro trước khi thương mại hóa.

Bốn là, Quản lý sự cố:

  • Nội dung chính và căn cứ pháp lý: Điều 12 quy định trách nhiệm báo cáo và xử lý khi có sự cố nghiêm trọng, là các sự kiện gây ra hoặc có nguy cơ gây thiệt hại đáng kể đến sức khỏe, quyền con người, an ninh mạng, tài sản,… do hoạt động của TTNT.
  • Điều kiện, thủ tục, nghĩa vụ: Khi xảy ra sự cố nghiêm trọng, nhà phát triển và nhà cung cấp phải khẩn trương áp dụng biện pháp kỹ thuật để khắc phục, tạm dừng hoặc thu hồi hệ thống, và thông báo cho cơ quan có thẩm quyền. Bên triển khai và người sử dụng có nghĩa vụ ghi nhận, báo cáo sự cố và phối hợp khắc phục. Toàn bộ quá trình báo cáo và xử lý sự cố phải thực hiện qua Cổng thông tin điện tử một cửa về TTNT.
  • Đối tượng liên quan: Nhà phát triển, nhà cung cấp, bên triển khai và người sử dụng đều có trách nhiệm liên đới theo từng cấp độ ứng phó sự cố.

Tóm lại, Để đảm bảo tuân thủ, các cá nhân tổ chức liên quan có thể cần thực hiện:

  • Rà soát, đánh giá và tự phân loại mức độ rủi ro (cao, trung bình, thấp) đối với các hệ thống TTNT đang phát triển hoặc kinh doanh.
  • Chuẩn bị thủ tục thông báo đối với hệ thống rủi ro trung bình và cao; tiến hành kiểm định/đánh giá sự phù hợp cho hệ thống rủi ro cao.
  • Bổ sung cơ chế gắn nhãn, đánh dấu định dạng máy đọc trên các nội dung do TTNT tạo ra để tuân thủ nghĩa vụ minh bạch.
  • Lập kế hoạch điều chỉnh hệ thống hiện hữu trong thời hạn chuyển tiếp (12 – 18 tháng kể từ 01/3/2026).
  • Xây dựng quy trình nội bộ về lưu trữ hồ sơ, quản lý dữ liệu và kịch bản ứng phó, báo cáo trực tuyến khi có sự cố nghiêm trọng xảy ra. 

 

Thay đổi của Luật Doanh nghiệp 2020

Trong những năm gần đây, giao dịch mua bán & sáp nhập doanh nghiệp – Merger & Acquisition (M&A) đã dần trở nên phổ biến trong đời sống kinh doanh và đầu tư tại Việt Nam. Đặc biệt, với tình hình kinh tế khó khăn những năm qua, việc M&A càng trở nên ưu tiên trong chiến lược của nhà đầu tư nước ngoài và đồng thời cũng là hướng đi đúng của doanh nghiệp trong nước nhằm làm tăng khả năng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp.

Nhận thấy được thực trạng đó, Công ty Luật QNT đã phát hành Bản tin pháp lý này nhằm hỗ trợ Khách hàng nắm bắt kịp thời những vấn đề pháp lý cơ bản về M&A[1].

1. M&A là gì?

Theo cách hiểu phổ biến thông thường:

  • Sáp nhập (Merger): là việc hai công ty, thường là có cùng quy mô, thống nhất sẽ cùng tham gia hợp nhất với nhau và trở thành một doanh nghiệp mới với tên gọi mới (hai cái tên cũ sẽ không còn tồn tại). Cổ phiếu cũ của hai công ty sẽ không còn tồn tại mà công ty mới ra đời sẽ phát hành cổ phiếu thay thế.
  • Thâu tóm, mua lại (Acquisition): là việc một công ty chiếm lĩnh hoàn toàn một công ty khác và đóng vai trò người chủ sở hữu mới thì được gọi là mua lại. Trên góc độ pháp lý, công ty bị mua lại sẽ ngừng hoạt động, công ty tiến hành mua lại “nuốt” trọn hoạt động kinh doanh của công ty kia, tuy nhiên cổ phiếu của công ty đi mua lại vẫn được giao dịch bình thường.

Ở Việt Nam, giao dịch M&A được điều chỉnh trước hết bởi các quy định của pháp luật về doanh nghiệp, đầu tư, chứng khoán và cạnh tranh. Ngoài ra, tuỳ thuộc vào từng trường hợp cụ thể giao dịch M&A có thể chịu sự điều chỉnh từ các cam kết của Việt Nam trong WTO, các quy định pháp luật chuyên ngành có liên quan như: sở hữu trí tuệ, đất đai, tài chính – ngân hàng, quản lý ngoại hối,…

Về cơ bản, giao dịch M&A được thực hiện dưới những hình thức sau đây:

  • Mua lại doanh nghiệp: là việc một doanh nghiệp trực tiếp hoặc gián tiếp mua toàn bộ hoặc một phần vốn góp, tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối doanh nghiệp hoặc một ngành, nghề của doanh nghiệp bị mua lại[2].
  • Sáp nhập doanh nghiệp: là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt hoạt động kinh doanh hoặc sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập[3].
  • Hợp nhất doanh nghiệp: là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt hoạt động kinh doanh hoặc sự tồn tại của các doanh nghiệp bị hợp nhất[4].
  • Bán, giao và chuyển giao doanh nghiệp 100% vốn nhà nước: là việc bán, giao và chuyển giao doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, doanh nghiệp 100% vốn của công ty mẹ trong tập đoàn kinh tế, tổng công ty, nhóm công ty có công ty mẹ hoạt động dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu; bán đơn vị hạch toán phụ thuộc của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty thành viên theo quy định của Nghị định 128/2014/NĐ-CP.
  • Góp vốn trực tiếp vào doanh nghiệp: thông qua việc góp vốn để tăng vốn điều lệ công ty TNHH hoặc mua cổ phần phát hành để tăng vốn điều lệ của công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp.
  • Mua lại vốn góp hoặc cổ phần đã phát hành: là việc mua lại vốn góp hoặc cổ phần đã phát hành của thành viên/cổ đông hiện hữu theo Luật Doanh nghiệp.

Trong đó, hình thức cho góp vốn vào công ty và bán phần vốn góp/cổ phần của công ty là hình thức giao dịch M&A phổ biến nhất tại Việt Nam. Một số giao dịch có thể kết hợp nhiều hình thức, cũng như có thể kết hợp với việc cho vay chuyển đổi hay mua trái phiếu chuyển đổi.

2. Một số giới hạn pháp lý 

1.1. Giới hạn góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài

Hiện nay, tỷ lệ góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài được giới hạn theo quy định của pháp luật Việt Nam và Biểu cam kết dịch vụ WTO, khái quát như sau:

  • Trên thị trường chứng khoán Việt Nam[5]:
  1. Công ty đại chúng hoạt động trong ngành, nghề đầu tư kinh doanh mà điều ước quốc tế có Việt Nam là thành viên quy định về sở hữu nước ngoài thì thực hiện theo điều ước quốc tế;
  2. Công ty đại chúng hoạt động trong ngành, nghề đầu tư kinh doanh mà pháp luật liên quan có quy định về sở hữu nước ngoài thì thực hiện theo quy định tại pháp luật đó;
  3. Công ty đại chúng hoạt động trong ngành, nghề đầu tư kinh doanh thuộc danh mục ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài thì thực hiện theo quy định về sở hữu nước ngoài tại danh mục. Trường hợp ngành, nghề tiếp cận thị trường có điều kiện tại danh mục không quy định cụ thể điều kiện tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ của nhà đầu tư nước ngoài trong tổ chức kinh tế thì tỷ lệ sở hữu nước ngoài tối đa tại công ty là 50% vốn điều lệ;
  4. Công ty đại chúng không thuộc các trường hợp quy định tại điểm (i), (ii) và (iii) nêu trên, thì tỷ lệ sở hữu nước ngoài là không hạn chế.
  • Đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chuyên ngành: tỷ lệ sở hữu áp dụng theo quy định pháp luật chuyên ngành. Chẳng hạn trong lĩnh vực ngân hàng, theo Biểu cam kết dịch vụ WTO và pháp luật về các tổ chức tín dụng quy định tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài không vượt quá 30% vốn điều lệ của một ngân hàng thương mại Việt Nam[6].

Về nguyên tắc, không thuộc các trường hợp hạn chế, thì các tổ chức là pháp nhân (bao gồm cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) và mọi cá nhân (không phân biệt quốc tịch) đều có quyền góp vốn, mua cổ phần với mức không hạn chế tại doanh nghiệp theo quy định tương ứng của Luật Doanh nghiệp.

1.2. Luật cạnh tranh trong giao dịch M&A

Theo quy định của Luật cạnh tranh số 23/2018/QH14, hành vi Tập trung kinh tế của doanh nghiệp chịu sự điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh bao gồm: sáp nhập doanh nghiệp, hợp nhất doanh nghiệp, mua lại doanh nghiệp, liên doanh giữa các doanh nghiệp và hành vi khác theo quy định của pháp luật. Chẳng hạn như:

  • Tập trung kinh tế bị cấm: Doanh nghiệp thực hiện tập trung kinh tế gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường Việt Nam.
  • Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm:
  1. Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trên cùng thị trường liên quan quy định về ấn định giá hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp; phân chia khách hàng, phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ; hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ.
  2. Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh giữa các doanh nghiệp quy định để một hoặc các bên tham gia thỏa thuận thắng thầu khi tham gia đấu thầu trong việc cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ; ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh; loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên tham gia thỏa thuận;…

 

[1] Khoản 1 Điều 139 Nghị định 155/2020/NĐ-CP

[2] Khoản 5 Điều 7 Nghị định 01/2014/NĐ-CP

_______________________________________________________________

[1] Tài liệu này được biên soạn phù hợp tại thời điểm ngày 01/01/2021

[2] Khoản 4 Điều 29 Luật Cạnh tranh số 23/2018/QH14

[3] Khoản 2 Điều 29 Luật Cạnh tranh số 23/2018/QH14

[4] Khoản 3 Điều 29 Luật Cạnh tranh số 23/2018/QH14

 

 

 

Một số điểm mới của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN

MỘT SỐ ĐIỂM MỚI CỦA THÔNG TƯ SỐ 39/2016/TT-NHNN

    Ngày 30 tháng 12 năm 2016, Thông tư số 39/2016/TT-NHNN (gọi tắt là “Thông Tư 39”) đã được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành và thay thế cho Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN (gọi tắt là “Văn Bản Bị Thay Thế”) hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 03 năm 2017, về việc Quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.

    Theo hiểu biết của chúng tôi, Thông Tư 39 này đã có một số điểm mới quan trọng về chủ thể vay vốn tại tổ chức tín dụng, mục đích vay vốn, lãi suất cho vay, thời hạn cho vay, hợp đồng mẫu, công khai điều kiện giao dịch, chuyển nợ quá hạn và thứ tự thu hồi nợ.

    Cụ thể, Thông Tư 39 đã có một số sự thay đổi quan trọng cần được lưu tâm sau đây:

    1. Chủ thể vay vốn tại tổ chức tín dụng

    Tại Thông Tư 39 quy định: “Khách hàng vay vốn tại tổ chức tín dụng (sau đây gọi là khách hàng) là pháp nhân, cá nhân, bao gồm: a) Pháp nhân được thành lập và hoạt động tại Việt Nam, pháp nhân được thành lập ở nước ngoài và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam; b) Cá nhân có quốc tịch Việt Nam, cá nhân có quốc tịch nước ngoài.[1].

    Chúng tôi nhận thấy rằng, sự khác biệt trong quy định mới này là việc khách hàng vay vốn tại tổ chức tín dụng chỉ bao gồm pháp nhân cá nhân. Nghĩa là, các tổ chức không phải là pháp nhân (ví dụ như: hộ gia đình, tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân) thì không có tư cách chủ thể vay vốn tại tổ chức tín dụng. Điều này cũng phù hợp với quy định tại Bộ luật Dân sự 2015[2].

    Thực tế trước đây, Văn Bản Bị Thay Thế đã quy định khách hàng vay tại tổ chức tín dụng là các tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài có nhu cầu vay vốn, có khả năng trả nợ…, nghĩa là pháp luật (đã bị thay thế) cho phép khách hàng vay bao gồm kể cả hộ gia đình, tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân hay công ty hợp danh.

    2. Mục đích vay vốn

    Tại Thông Tư 39 quy định có hai (2) nhóm mục đích vay vốn, bao gồm: Cho vay phục vụ nhu cầu đời sốngCho vay phục vụ hoạt động kinh doanh, cụ thể:

    • Cho vay phục vụ nhu cầu đời sống được hiểu là “việc tổ chức tín dụng cho vay đối với khách hàng là cá nhân để thanh toán các chi phí cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân đó, gia đình của cá nhân đó[3]; và

    • Cho vay phục vụ hoạt động kinh doanh được hiểu là “việc tổ chức tín dụng cho vay đối với khách hàng là pháp nhân, cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu vốn ngoài quy định tại khoản 4 Điều này (Cho vay phục vụ nhu cầu đời sống), bao gồm nhu cầu vốn của pháp nhân, cá nhân đó và nhu cầu vốn của hộ kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân mà cá nhân đó là chủ hộ kinh doanh, chủ doanh nghiệp tư nhân[4].

    Chúng tôi nhận thấy rằng, sự khác biệt trong quy định mới này là việc Thông Tư 39 không giới hạn mục đích vay vốn như Văn Bản Bị Thay Thế, mà nó chia nhu cầu vay vốn thành 02 nhóm như nói trên. Thực tế trước đây, Văn Bản Bị Thay Thế đã giới hạn mục đích vay vốn của khách hàng ở việc thực hiện dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống ở trong nước và nước ngoài.

    Cần lưu ý rằng, mặc dù theo Thông Tư 39 tổ chức không có tư cách pháp nhân thì không có tư cách chủ thể vay vốn tại tổ chức tín dụng, nhưng Thông Tư 39 cho phép tổ chức tín dụng cho vay đối với cá nhân là chủ hộ kinh doanh hoặc chủ doanh nghiệp tư nhân nhằm đáp ứng nhu cầu vốn của hộ kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân.

    3.       Đảo nợ

    Đối với quy định về đảo nợ, Thông Tư 39 quy định tổ chức tín dụng không được cho vay đối với các nhu cầu vốn nhằm:

    • Để trả nợ khoản nợ vay tại chính tổ chức tín dụng cho vay trừ trường hợp cho vay để thanh toán lãi tiền vay phát sinh trong quá trình thi công xây dựng công trình, mà chi phí lãi tiền vay được tính trong dự toán xây dựng công trình được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật.

    • Để trả nợ khoản nợ vay tại tổ chức tín dụng khác và trả nợ khoản vay nước ngoài, trừ trường hợp cho vay để trả nợ trước hạn khoản vay đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:

    a) Là khoản vay phục vụ hoạt động kinh doanh;

    b) Thời hạn cho vay không vượt quá thời hạn cho vay còn lại của khoản vay cũ;

    c) Là khoản vay chưa thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ[5].

    Chúng tôi nhận thấy rằng, Thông Tư 39 đã có sự thay đổi trong quy định về đảo nợ so với Văn Bản Bị Thay Thế theo hướng kiểm soát chặt chẽ hơn việc cho vay để trả nợ.

    4. Lãi suất cho vay

    Tại Thông Tư 39 quy định:

    • Mức trần lãi suất: “Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận về lãi suất cho vay theo cung cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của khách hàng[6], trừ trường hợp cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam thì lãi suất thỏa thuận “không vượt quá mức lãi suất cho vay tối đa do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quyết định trong từng thời kỳ nhằm đáp ứng một số nhu cầu vốn[7];

    • Lãi chậm trả: Trường hợp khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi thì phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả[8];

    • Lãi tại thời điểm chuyển nợ quá hạn: Trường hợp khoản nợ vay bị chuyển nợ quá hạn, thì khách hàng phải trả lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất áp dụng không vượt quá 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn[9];

    • Lãi suất cho vay điều chỉnh: Trường hợp áp dụng lãi suất cho vay điều chỉnh, thì “tổ chức tín dụng và khách hàng phải thỏa thuận nguyên tắc và các yếu tố để xác định lãi suất điều chỉnh, thời điểm điều chỉnh lãi suất cho vay. Trường hợp căn cứ các yếu tố để xác định lãi suất điều chỉnh dẫn đến có nhiều mức lãi suất cho vay khác, thì tổ chức tín dụng áp dụng mức lãi suất cho vay thấp nhất[10].

    Chúng tôi nhận thấy rằng, sự quan trọng trong quy định mới này là việc quy định về trần lãi suất chỉ áp dụng đối với trường hợp cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam thuộc các lĩnh vực ưu tiên quy định tại Thông Tư 39. Hơn nữa, bên cạnh lãi suất cho vay trong hạn, đã có sự quy định rõ ràng về mức tối đa và cách tính của lãi chậm trả, lãi tại thời điểm chuyển nợ quá hạn và lãi suất cho vay điều chỉnh nhằm để tránh sự tranh chấp trong cách hiểu của các bên.

    5. Thời hạn cho vay

    Tại Thông Tư 39 quy định:

    • Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ ngày tiếp theo của ngày tổ chức tín dụng giải ngân vốn vay cho khách hàng cho đến thời điểm khách hàng phải trả hết nợ gốc và lãi tiền vay theo thỏa thuận của tổ chức tín dụng và khách hàng[11];

    • Tổ chức tín dụng theo các loại cho vay như sau:

    • Cho vay ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay tối đa 01 (một) năm.

    • Cho vay trung hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 01 (một) năm và tối đa 05 (năm) năm.

    • Cho vay dài hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 05 (năm) năm[12].

    Chúng tôi nhận thấy rằng, sự khác biệt trong quy định mới này là việc (i) thời hạn vay không được tính từ khi khách hàng nhận vốn vay; và (ii) thời hạn vay được xác định bằng năm thay cho bằng tháng như trước đây.

    6. Một số thay đổi khác

    • Đồng tiền trả nợ: Bên cạnh việc quy định về đồng tiền cho vay giống như trước đây tại Văn Bản Bị Thay Thế, thì Thông Tư 39 đã có quy định mới cụ thể về đồng tiền trả nợ – “Đồng tiền trả nợ là đồng tiền cho vay của khoản vay[13].

    • Phí cam kết rút vốn: Thông Tư 39 đã có sự bổ sung về Phí cam kết rút vốn, cụ thể tổ chức tín dụng và khách hàng có thể thỏa thuận về việc trả “Phí cam kết rút vốn kể từ thời điểm thỏa thuận cho vay có hiệu lực đến ngày giải ngân vốn vay lần đầu[14].

    • Phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại: Thông Tư 39 đã quy định tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong trường hợp các bên không thực hiện đúng thỏa thuận cho vay, trừ trường hợp vi phạm về trả nợ gốc và/hoặc lãi. Đồng thời, lưu ý rằng, nếu không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm (không phải chịu bồi thường thiệt hại)[15].

    • Chuyển nợ quá hạn: Thông Tư 39 đã quy định “Tổ chức tín dụng chuyển nợ quá hạn đối với số dư nợ gốc mà khách hàng không trả được nợ đúng hạn theo thỏa thuận và không được tổ chức tín dụng chấp thuận cơ cấu lại thời hạn trả nợ[16]. Sự khác biệt trong quy định mới này là việc thay thế “toàn bộ số dư nợ” (được quy định trong Văn Bản Bị Thay Thế) bằng “số dư nợ gốc mà khách hàng không trả được nợ đúng hạn” – đây là quy định nhằm tránh xung đột trong cách hiểu của các bên trước đây.

    • Công khai hợp đồng mẫu, điều kiện giao dịch chung: Tại Thông Tư 39 quy định tổ chức tín dụng phải thực hiện:

    • Niêm yết công khai hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung về cho vay tại trụ sở và đăng tải trên trang thông tin điện tử của tổ chức tín dụng;

    • Cung cấp đầy đủ thông tin về hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung cho khách hàng biết trước khi ký kết thỏa thuận cho vay và có xác nhận của khách hàng về việc đã được tổ chức tín dụng cung cấp đầy đủ thông tin[17].

    • Thông báo thu hồi nợ: Khi thực hiện việc chuyển nợ quá hạn, chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn theo thỏa thuận cho vay, tổ chức tín dụng phải thông báo cho khách hàng về việc chuyển nợ quá hạn đối với nợ gốc, chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn này[18].

    ________________________________________________

    [1] Khoản 3 Điều 2 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN

    [2] Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 ngày 24 tháng 11 năm 2015 của Quốc Hội Khóa XIII nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

    [3] Khoản 4 Điều 2 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN

    [4] Khoản 5 Điều 2 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN

    [5] Khoản 5 và 6 Điều 8 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN

    [6] Khoản 1 Điều 13 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN

    [7] Khoản 2 Điều 13 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN

    [8] Khoản 4(b) Điều 13 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN

    [9] Khoản 4(c) Điều 13 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN

    [10] Khoản 5 Điều 13 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN

    [11] Khoản 8 Điều 2 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN

    [12] Điều 10 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN

    [13] Điều 20 và Khoản 1 Điều 21 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN

    [14] Khoản 4 Điều 14 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN

    [15] Điều 25 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN

    [16] Điều 20 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN

    [17] Khoản 4 Điều 23 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN

    [18] Điều 20 và Khoản 1 Điều 21 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN

      ________________________________________________

      @ Copyright 2015 – Công ty Luật QNT – Bài viết được viết trong và tuân theo pháp luật liên quan tại thời điểm được công bố

       

      Khung pháp lý M&A tại Việt Nam

      MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN BIẾT VỀ

      MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM

      Trong những năm gần đây, giao dịch mua bán & sáp nhập doanh nghiệp – Merger & Acquisition (M&A) đã dần trở nên phổ biến trong đời sống kinh doanh và đầu tư tại Việt Nam. Đặc biệt, với tình hình kinh tế khó khăn những năm qua, việc M&A càng trở nên ưu tiên trong chiến lược của nhà đầu tư nước ngoài và đồng thời cũng là hướng đi đúng của doanh nghiệp trong nước nhằm làm tăng khả năng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp.

      Nhận thấy được thực trạng đó, Công ty Luật QNT đã phát hành Bản tin pháp lý này nhằm hỗ trợ Khách hàng nắm bắt kịp thời những vấn đề pháp lý cơ bản về M&A[1], cụ thể bao gồm:

      1. M&A là gì?

      Theo cách hiểu phổ biến thông thường:

      • Sáp nhập (Merger): là việc hai công ty, thường là có cùng quy mô, thống nhất sẽ cùng tham gia hợp nhất với nhau và trở thành một doanh nghiệp mới với tên gọi mới (hai cái tên cũ sẽ không còn tồn tại). Cổ phiếu cũ của hai công ty sẽ không còn tồn tại mà công ty mới ra đời sẽ phát hành cổ phiếu thay thế.
      • Thâu tóm, mua lại (Acquisition): là việc một công ty chiếm lĩnh hoàn toàn một công ty khác và đóng vai trò người chủ sở hữu mới thì được gọi là mua lại. Trên góc độ pháp lý, công ty bị mua lại sẽ ngừng hoạt động, công ty tiến hành mua lại “nuốt” trọn hoạt động kinh doanh của công ty kia, tuy nhiên cổ phiếu của công ty đi mua lại vẫn được giao dịch bình thường.

      Ở Việt Nam, giao dịch M&A được điều chỉnh trước hết bởi các quy định của pháp luật về doanh nghiệp, đầu tư, chứng khoán và cạnh tranh. Ngoài ra, tuỳ thuộc vào từng trường hợp cụ thể giao dịch M&A có thể chịu sự điều chỉnh từ các cam kết của Việt Nam trong WTO, các quy định pháp luật chuyên ngành có liên quan như: sở hữu trí tuệ, đất đai, tài chính – ngân hàng, quản lý ngoại hối,…

      Về cơ bản, giao dịch M&A được thực hiện dưới những hình thức sau đây:

      • Mua lại doanh nghiệp: là việc một doanh nghiệp trực tiếp hoặc gián tiếp mua toàn bộ hoặc một phần vốn góp, tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối doanh nghiệp hoặc một ngành, nghề của doanh nghiệp bị mua lại[2].
      • Sáp nhập doanh nghiệp: là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt hoạt động kinh doanh hoặc sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập[3].
      • Hợp nhất doanh nghiệp: là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt hoạt động kinh doanh hoặc sự tồn tại của các doanh nghiệp bị hợp nhất[4].
      • Bán, giao và chuyển giao doanh nghiệp 100% vốn nhà nước: là việc bán, giao và chuyển giao doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, doanh nghiệp 100% vốn của công ty mẹ trong tập đoàn kinh tế, tổng công ty, nhóm công ty có công ty mẹ hoạt động dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu; bán đơn vị hạch toán phụ thuộc của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty thành viên theo quy định của Nghị định 128/2014/NĐ-CP.
      • Góp vốn trực tiếp vào doanh nghiệp: thông qua việc góp vốn để tăng vốn điều lệ công ty TNHH hoặc mua cổ phần phát hành để tăng vốn điều lệ của công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp.
      • Mua lại vốn góp hoặc cổ phần đã phát hành: là việc mua lại vốn góp hoặc cổ phần đã phát hành của thành viên/cổ đông hiện hữu theo Luật Doanh nghiệp.

      Trong đó, hình thức cho góp vốn vào công ty và bán phần vốn góp/cổ phần của công ty là hình thức giao dịch M&A phổ biến nhất tại Việt Nam. Một số giao dịch có thể kết hợp nhiều hình thức, cũng như có thể kết hợp với việc cho vay chuyển đổi hay mua trái phiếu chuyển đổi.

      M&A

      2. Một số giới hạn pháp lý 

      2.1. Giới hạn góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài

      Hiện nay, tỷ lệ góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài được giới hạn theo quy định của pháp luật Việt Nam và Biểu cam kết dịch vụ WTO, khái quát như sau:

      • Trên thị trường chứng khoán Việt Nam[5]:

        • Công ty đại chúng hoạt động trong ngành, nghề đầu tư kinh doanh mà điều ước quốc tế có Việt Nam là thành viên quy định về sở hữu nước ngoài thì thực hiện theo điều ước quốc tế;

        • Công ty đại chúng hoạt động trong ngành, nghề đầu tư kinh doanh mà pháp luật liên quan có quy định về sở hữu nước ngoài thì thực hiện theo quy định tại pháp luật đó;

        • Công ty đại chúng hoạt động trong ngành, nghề đầu tư kinh doanh thuộc danh mục ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài thì thực hiện theo quy định về sở hữu nước ngoài tại danh mục. Trường hợp ngành, nghề tiếp cận thị trường có điều kiện tại danh mục không quy định cụ thể điều kiện tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ của nhà đầu tư nước ngoài trong tổ chức kinh tế thì tỷ lệ sở hữu nước ngoài tối đa tại công ty là 50% vốn điều lệ;

        • Công ty đại chúng không thuộc các trường hợp quy định tại điểm (i), (ii) và (iii) nêu trên, thì tỷ lệ sở hữu nước ngoài là không hạn chế.

        • Đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chuyên ngành: tỷ lệ sở hữu áp dụng theo quy định pháp luật chuyên ngành. Chẳng hạn trong lĩnh vực ngân hàng, theo Biểu cam kết dịch vụ WTO và pháp luật về các tổ chức tín dụng quy định tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài không vượt quá 30% vốn điều lệ của một ngân hàng thương mại Việt Nam[6].

        Về nguyên tắc, không thuộc các trường hợp hạn chế, thì các tổ chức là pháp nhân (bao gồm cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) và mọi cá nhân (không phân biệt quốc tịch) đều có quyền góp vốn, mua cổ phần với mức không hạn chế tại doanh nghiệp theo quy định tương ứng của Luật Doanh nghiệp.

        1.2. Luật cạnh tranh trong giao dịch M&A

        Theo quy định của Luật cạnh tranh số 23/2018/QH14, hành vi Tập trung kinh tế của doanh nghiệp chịu sự điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh bao gồm: sáp nhập doanh nghiệp, hợp nhất doanh nghiệp, mua lại doanh nghiệp, liên doanh giữa các doanh nghiệp và hành vi khác theo quy định của pháp luật. Chẳng hạn như:

        • Tập trung kinh tế bị cấm: Doanh nghiệp thực hiện tập trung kinh tế gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường Việt Nam.

        • Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm:

          • Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trên cùng thị trường liên quan quy định về ấn định giá hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp; phân chia khách hàng, phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ; hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ.

          • Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh giữa các doanh nghiệp quy định để một hoặc các bên tham gia thỏa thuận thắng thầu khi tham gia đấu thầu trong việc cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ; ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh; loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên tham gia thỏa thuận;…

          Ngoài ra, dưới góc độ pháp lý, các bên khi tiến hành giao dịch M&A có thể phải quan tâm đến các quy định của pháp luật đất đai, sở hữu trí tuệ, lao động, tài chính – ngân hàng,…

          3. Thuế trong giao dịch M&A

          Theo quy định của pháp luật Việt Nam, việc chuyển nhượng vốn/chứng khoán trong giao dịch M&A có thể là đối tượng chịu thuế, khái quát như sau:

          • Đối với Thuế giá trị gia tăng (VAT): theo quy định tại Nghị định số 209/2013/NĐ-CP đối với chuyển nhượng vốn bao gồm việc chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ số vốn đã đầu tư, kể cả trường hợp bán doanh nghiệp cho doanh nghiệp khác để sản xuất kinh doanh, chuyển nhượng chứng khoán và các hình thức chuyển nhượng vốn khác theo quy định của pháp luật thì thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng.
          • Đối với Thuế thu nhập doanh nghiệp (CIT): theo quy định tại Thông tư số 78/2014/TT-BTC đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn/chứng khoán của doanh nghiệp là đối tượng chịu thuế thu nhập doanh nghiệp.
          • Đối với Thuế thu nhập cá nhân (PIT): theo quy định tại Thông tư số 156/2013/TT-BTC đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn (bao gồm chuyển nhượng phần vốn góp, chứng khoán và chuyển nhượng vốn dưới các hình thức khác) là đối tượng chịu thuế thu nhập cá nhân.

          ________________________________________________

          [1] Tài liệu này được biên soạn phù hợp tại thời điểm ngày 01/01/2021

          [2] Khoản 4 Điều 29 Luật Cạnh tranh số 23/2018/QH14

          [3] Khoản 2 Điều 29 Luật Cạnh tranh số 23/2018/QH14

          [4] Khoản 3 Điều 29 Luật Cạnh tranh số 23/2018/QH14

          [5] Khoản 1 Điều 139 Nghị định 155/2020/NĐ-CP

          [6] Khoản 5 Điều 7 Nghị định 01/2014/NĐ-CP

          ________________________________________________

          @ Copyright 2012 – Công ty Luật QNT – Bản tin pháp lý: Một số vấn đề cần biết về Mua bán và Sáp nhập doanh nghiệp tại Việt Nam (phiên bản 4.0 năm 2021)